Huế – thu nhập bình quân đầu người khá cao 950USD/người/năm
(TTH) - Trong những năm qua tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội ở tỉnh Thừa Thiên Huế đã có những chuyển biến tích cực với tốc độ tăng trưởng bình quân cao 13%/năm, đã phổ cập xong bậc tiểu học, thu nhập bình quân đầu người khá cao 950USD/người/năm…
Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn đứng trước những khó khăn như: tỷ lệ đói nghèo 8%, số lao động thất nghiệp cao với tốc độ tăng 5,8% năm,… Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh trong thời gian qua. Do đó, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển của tỉnh”.
Nhằm góp phần nhận thức một cách sáng tỏ hơn con đường tổng quát đó, bài viết này khái quát và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự tác động tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội có hiệu quả ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Thừa Thiên Huế 2009
Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2000-2009
Trong giai đoạn 2000- 2009, tốc độ tăng trưởng GDP toàn tỉnh khá cao và có xu hướng tăng lên trong tất cả các ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 9,2%/năm giai đoạn 2000 – 2004. Chuyển sang giai đoạn 2005 – 2009, kinh tế tăng trưởng bình quân 13%/năm, trong đó, đáng chú ý nhất là ngành công nghiệp và xây dựng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 17,1%/năm, tiếp đến là ngành dịch vụ 12,6%/năm, còn tốc độ tăng truởng của ngành nông lâm và thủy sản là 2,54%/năm. Nhờ vậy GDP năm 2009 đạt trên 5300 tỷ đồng, tăng gấp 2,5 lần năm 2000, trong đó ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất là 45,9%, xếp thứ nhì là ngành công nghiệp xây dựng 37,6% và cuối cùng là ngành nông lâm thủy sản 16,5% với cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng hiện đại.
Như vậy, tốc độ tăng trưởng của tất cả các ngành ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian qua, đặc biệt trong giai đoạn 2005 – 2009 đạt mức khá cao và khá ổn định. Các mục tiêu tăng trưởng đã đạt và vượt kế hoạch đề ra. Nhưng do sự phát triển chưa cân đối giữa các ngành, đặc biệt là sự giảm sút của ngành nông nghiệp nên trong thời gian tới tỉnh Thừa Thiên Huế cần đưa ra được những điều chỉnh, quy hoạch và chính sách sao cho thật sự phù hợp hơn nữa đối với từng nhóm ngành để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của toàn tỉnh nhằm phát huy thế mạnh kinh tế của tỉnh nhà và sớm hình thành nên một cơ cấu kinh tế hợp lý, phấn đấu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2015.
Trong giai đoạn 2000 – 2009, tất cả các thành phần kinh tế củaThừa Thiên Huế có tốc độ tăng khá cao, trong đó nổi bật nhất là thành phần kinh tế tư nhân có tốc độ tăng bình quân cao nhất đạt 28,4%/năm (2000 – 2004). Riêng về thành phần kinh tế nhà nước – là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo, trong 5 năm qua (2005 – 2009) cũng có tốc độ tăng trưởng bình quân 9,2%/năm chiếm 29,8% tổng sản phẩm toàn tỉnh năm 2009. Đặc biệt, thành phần kinh tế tư nhân luôn được xem là thành phần kinh tế không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của tỉnh Thừa Thiên Huế, có tốc độ tăng trưởng bình quân rất cao trong giai đoạn 2005 – 2009 đạt 30%/năm.
Tiến bộ xã hội (TBXH) giai đoạn 2000 – 2009
Trong thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chú trọng đến việc phát triển xã hội trên địa bàn tỉnh, điều này được thể hiện thông qua một số chính sách mà tỉnh đã đề ra bao gồm: chính sách giáo dục, chính sách y tế, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách việc làm, chính sách cứu trợ và bảo trợ xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo và chính sách đối với phụ nữ và bình đẳng giới. Trên cơ sở đó, TBXH của tỉnh cũng đã có những bước phát triển đáng kể, điều này được thể hiện qua 5 tiêu chí sau:
Trong giai đoạn 2000 – 2009, chi sự nghiệp xã hội của tỉnh đã tăng lên nhanh chóng từ 248 tỷ đồng năm 2000 đã tăng lên gần 1.3000 tỷ đồng năm 2009. Trong đó, chi cho giáo dục đào tạo cao nhất chiếm 57,8% tổng chi sự nghiệp xã hội năm 2000 đã tăng lên 64,2% năm 2009. Bên cạnh đó, chi cho y tế và chi đảm bảo xã hội cũng tăng nhanh.
Công tác giáo dục đã có những chuyển biến tích cực, điều này được thể hiện trong tất cả các bậc học từ giáo dục phổ thông (bao gồm bậc tiểu học và trung học), giáo dục nghề nghiệp và giáo dục cao đẳng và đại học. Cụ thể là:
+ Tỉnh đã chú trọng nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục; giữ vững chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học vàtrung học cơ sở. Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm học 2008 – 2009, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 86,29%1 tăng15,37% so với năm học trước; tỷ lệ học sinh vào các trường đại học và cao đẳng đạt 28,13%, tăng 2%. Tham gia các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia có: 50 giải học sinh giỏi lớp 12, thi giải toán trên máy tính cầm tay theo khu vực đạt 23 giải, xếp thứ nhì toàn đoàn; thi giải toán Violympic trên Internet khối lớp 5 có 29 giải, đạt Huy chương Bạc toàn đoàn; khối 9 có 24 giải, đạt Huy chương Vàng toàn đoàn. Đặc biệt, trong cuộc thi Đường lên đỉnh Olympia năm thứ 9, em Hồ Ngọc Hân của Trường Quốc Học đã đạt giải nhất; đã phối hợp tổ chức tốt cuộc thi Olympic Toán tuổi thơ, giải toán qua Internet, ….
+ Khai giảng năm học 2009 – 2010 đã huy động cháu 5 tuổi đi mẫu giáo, đạt tỷ lệ 97,8%, huy động cháu 6 tuổi vào lớp một đạt 99,9%; có 230.100 học sinh từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông, bằng 96,7% so năm học 2008-2009. Giữ vững chất lượng phổ cập giáo dục tiểu tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS và từng bước thực hiện phổ cập giáo dục trung học.
+ Mạng lưới các trường học phát triển cả về số lượng và chất lượng; đã có 116/577 trường đạt chuẩn Quốc gia, chiếm tỷ lệ 20,1%; cơ bản hoàn thành chương trình cải tạo môi trường vệ sinh trường học. Tiếp tục hỗ trợ phát triển giáo dục theo hướng xã hội hóa; đã cấp GCNĐTcho trường Mầm non Huế Star, cấp GCNĐT mở rộng giai đoạn II cho trường THPT dân lập Trần Hưng Đạo, Trung tâm dạy nghề lái xe ô tô và mô tô, mở rộng trường Trung cấp Âu Lạc.
+ Đại học Huế năm học 2009-2010 đã tuyển sinh 8.940 sinh viên, cho 91 ngành học, tăng 27,4% so năm học2008-2009. Năm 2009 có 41 nhà giáo của Đại học Huế được công nhận chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư, nâng tổng số đội ngũ GS, PGS ở Đại học Huế lên 137 GS, PGS (trong đó có 5 GS). Ngoài 7 trường Đại học thành viên và 2 khoa trực thuộc, đã thành lập thêm Khoa Luật trực thuộc Đại học Huế.
Sản xuất bê tông ly tâm tại cụm công nghiệp Tứ Hạ – Hương Trà
Với tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao đã góp phần làm tăng thu nhập bình quân trên đầu người của tỉnh Thừa Thiên Huế từ 376 USD/người/năm năm 2000 lên đến 950 USD/người/năm năm 2009 và ước đạt 1150 năm 2010 với tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2000 – 2009 đạt 7,5%/năm. Từ đó, góp phần làm cho đời sống của người dân ngày càng được cải thiện hơn.
Tỷ lệ sinh của Thừa Thiên Huế giảm mạnh từ 21,2%o năm 2000 xuống còn 16,0%o năm 2009. Bên cạnh đó, tỷ lệ chết cũng giảm mạnh từ 4,9%o xuống còn 4,0%0năm 2009. Qua sự giảm sút đó của tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết đã chứng minh rằng công tác giáo dục về kế hoạch hóa gia đình, công tác y tế, môi trường sống của tỉnh ngày càng được chú ý và phát triển.
Cùng với sự giảm sút đó, tốc độ tăng dân số cũng giảm từ 1,6% xuống còn 1,22%o năm 2009. Bên cạnh đó, lao động được làm việc trong các ngành kinh tế tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân 5,04%o, đồng thời nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề đạt 37,25% năm 2009. Tuy nhiên, số người lao động trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp tăng khá nhanh 5,8%/năm giai đoạn 2000 – 2009. Đây được xem là một trong những hạn chế trong việc phát triển TBXH của tỉnh.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự tác động TTKT với TBXH ở tỉnh Thừa Thiên Huế
Để nâng cao hiệu quả của tác động TTKT với TBXH ở tỉnh Thừa Thiên Huế, trong giai đoạn trước mắt – giai đoạn CNH, HĐH cần phải tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:
Giải pháp về huy động, sử dụng và phân bổ vốn.
Về huy động vốn: Để phát huy được tác động của TTKT với TBXH thì trong thời gian tới nhu cầu về vốn cần phải huy động trên 90.000 tỷ đồng cho toàn tỉnh vào năm 2015. Nguồn vốn được huy động ở Thừa Thiên Huế chủ yếu từ 3 nguồn chính là nguồn vốn trong nội bộ tỉnh (bao gồm vốn từ Ngân sách tỉnh và từ người dân trong tỉnh), từ Ngân sách nhà nước và nguồn vốn nước ngoài. Trong đó, nguồn vốn trong tỉnh thường được tích lũy từ nội bộ nền kinh tế tỉnh bằng cách thực hiện tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng, tăng cường thu hút vốn trong nội bộ nền kinh tế của tỉnh, nguồn vốn này chiếm từ 50% – 55%.
Còn đối với nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài thì phải tranh thủ tối đa các nguồn vốn này nhất là vốn ODA và vốn viện trợ của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ để xây dựng CSHT phục vụ xã hội, để đầu tư và phát triển y tế, giáo dục. Vì vậy, từ đây đến 2015, tỉnh phải cố gắng kêu gọi Nhà nước đầu tư khoảng 25% – 35%. Còn lại tỉnh phải tìm mọi cách kêu gọi vốn đầu tư từ bên ngoài hoặc sẽ đi vay. Trong đó, dự kiến khoảng 10 – 15% vốn dựa vào nguồn vốn ODA, còn lại là vốn vay hoặc vốn huy động trực tiếp từ các tổ chức phi Chính Phủ khác.
Về sử dụng và phân bổ vốn: Trước hết phải thực hiện tiết kiệm trong quá trình sử dụng vốn để đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội. Trên cơ sở đó, phải tiến hành phân cấp quản lý và sử dụng vốn một cách chặt chẽ, tránh trường hợp lãng phí vốn của Nhà nước và của dân. Bên cạnh đó, lãnh đạo tỉnh và cơ quan, ban ngành cần phải có kế hoạch phân bổ vốn hợp lý để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, trên cơ sở đó, thúc đẩy TBXH; ưu tiên vốn đầu tư cho vùng trọng điểm sản xuất nông sản hàng hóa có chất lượng cao, khắc phục xu hướng giảm sút của tỷ trọng vốn đầu tư cho chi ngân sách sự nghiệp xã hội và đảm bảo có đủ ngân sách để đầu tư phát triển giáo dục, y tế và cứu trợ xã hội để đến năm 2015 đảm bảo phổ cập xong trung học phổ thông. Trong đó, chi cho giáo dục – đào tạo 25% – 28%, chi cho y tế 6% – 10% và chi đảm bảo xã hội 3% – 5%.
Giải pháp đẩy mạnh các biện pháp tạo việc làm, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Trước hết, đầu tư thỏa đáng cho giáo dục – đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề cho người lao động để giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề xuống còn 35% năm 2015. Bên cạnh đó, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ để thu hút lao động và tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Đồng thời, tiến hành đẩy mạnh việc xuất khẩu lao động đi làm việc ở nước ngoài bằng việc mở rộng thị trường xuất khẩu lao động. Tổ chức tốt các hoạt động giới thiệu, tư vấn việc làm,… Đặc biệt trong nông thôn, coi trọng việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp để tạo việc làm cho người dân nông thôn. Để phấn đấu trong giai đoạn 2010 – 2015, mỗi năm phải giải quyết được việc làm cho 16 – 20 ngàn lao động
Giải pháp tăng cường các biện pháp xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy hội nhập xã hội đối với đồng bào dân tộc ít người:
Trước mắt, cần giúp đỡ các hộ nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập và từng bước nâng cao mức sống của người dân đến năm 2015 đạt 1700 USD/người/năm bằng cách đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông, phát triển dạy nghề miễn phí cho người nghèo, tăng cường cho vay đối với hộ nghèo, xã nghèo để phát triển sản xuất,… Đồng thời, có chính sách khuyến khích hộ nghèo, xã nghèo phấn đấu vượt nghèo trên cơ sở thực hiện chính sách hỗ trợ về nhà ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, cho các hộ nghèo ở vùng thường xuyên bị thiên tai và đầu tư kỹ thuật, công nghệ phù hợp với các cơ sở chế biến ở vùng còn nhiều khó khăn để trong giai đoạn 2010 – 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 3% và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 10% – 12%.
Giải pháp đảm bảo sự bình đẳng thực sự giữa các chủ thể kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách phải đảm bảo việc phân phối theo lao động, tức làm theo năng lực hưởng theo lao động. Bên cạnh đó, xóa bỏ sự ưu tiên phát triển các nguồn lực theo chủ thể kinh tế hay thành phần kinh tế.
Giải pháp xây dựng và hoàn thiện thể chế dân chủ XHCN, thực hiện dân chủ hóa rộng rãi trong các lĩnh vực của đời sống xã hội:
Để làm được điều nay, trước mắt, trong tổ chức và quản lý xã hội thì tỉnh phải thiết chế cụ thể nhằm triển khai thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện đầy đủ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đồng thời, nâng cao năng lực hành động và phát huy chức năng, vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh và các cơ sở, ban, ngành trực thuộc tỉnh.
Giải pháp xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp quyền XHCN. Tiếp tục coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Đồng thời tăng cường pháp chế XHCN bằng cách tăng cường giáo dục pháp luật và giáo dục ý thức về nghĩa vụ công dân cho người dân. Bên cạnh đó, tiến hành đổi mới tỏ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý của tỉnh.
Nguyễn Hồ Minh Trang
Trường đại học Kinh tế – Đại học Huế











