Số liệu mới nhất GDP bình quân đầu người Huế đạt 1.013 USD
(TTH) - Tại kỳ họp thứ 14, HĐND tỉnh khoá V, các đại biểu tập trung thảo luận để thông qua đề án Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Có thể nói, xu hướng phát triển của Thừa Thiên Huế là xu hướng của các đô thị văn minh trên thế giới – “đô thị sinh thái, di sản, văn hóa và thân thiện với môi trường” và nâng cao những giá trị tinh thần.
Kết luận số 48 của Bộ Chính trị về Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020 và Quyết định số 86 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển KTXH tỉnh Thừa Thiên Huế đến 2020, theo đó phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thừa Thiên Huế tiếp tục được xác định: “Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành đa lĩnh vực, chất lượng cao. Phấn đấu đến năm 2020, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam Châu Á”.
Tiềm năng kinh tế – xã hội
Nhiều năm qua, kinh tế của Thừa Thiên Huế có những bước phát triển khá toàn diện, đạt những thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 – 2010 đạt 12%/năm. Năm 2009, kinh tế đạt tăng trưởng 11,12%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; trong đó, dịch vụ chiếm 45,9%; công nghiệp – xây dựng chiếm 37,6%, nông nghiệp chiếm 16,5%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt hơn 7.200 tỷ đồng, tăng 25,2%; thu ngân sách đạt trên 2.750 tỷ đồng, tăng 34%; GDP bình quân đầu người đạt 1.013 USD. Chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh từng bước được cải thiện; cơ sở hạ tầng được tăng cường đầu tư; quá trình đô thị hoá nhanh tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển bền vững.
Một số lĩnh vực Thừa Thiên Huế có vị thứ xếp hạng cao so cả nước như thu ngân sách xếp 20/63 tỉnh thành; chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh nằm trong nhóm tốt, tăng từ vị trí 40 (năm 2005) lên vị trí 14/64 tỉnh thành năm (2009); các lĩnh vực y tế, giáo dục, du lịch tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu; chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông – ICT xếp thứ 4/63…
Bên cạnh đó, môi trường đầu tư được cải thiện; Đã thu hút được 66 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký lên tới 2.455,5 triệu USD. Trong đó: 17/66 dự án đang xây dựng; 26/66 dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 360 triệu USD (14,7% vốn đăng ký). Doanh thu cả năm đạt khoảng 250 triệu USD (tăng 25% so với năm 2008), nộp ngân sách đạt hơn 850 tỷ đồng (tăng 3% so với năm 2008).
Ngoài ra, các tiêu chí về về văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng, đặc điểm dân số, quản lý sử dụng đất đai đô thị, quy hoạch và quản lý đô thị, cơ cấu hành chính và quản lý hành chính đô thị là cơ sở để phát triển kinh tế – xã hội và đô thị Thừa Thiên Huế trong tương lai. Hệ thống cơ sở hạ tầng tỉnh Thừa Thiên Huế được phát triển mạnh mẽ, đồng bộ. Các ngành giao thông, điện, cấp thoát nước, sân bay, cảng biển… không ngừng phát triển và đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng tốt nhất cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
Nhiệm vụ trọng tâm đến năm 2015
Chương trình phát triển đô thị tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2015 được thực hiện gắn liền với việc triển khai các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội từ nay đến 2020 theo Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2010 – 2015 được Đảng bộ tỉnh quyết nghị tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV. Cần tập trung chỉ đạo thực hiện 7 chương trình có liên quan trực tiếp tới đô thị Thừa Thiên Huế: nâng cấp và phát triển đô thị, trọng tâm là đô thị Huế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà, thị xã Thuận An; phát triển kinh tế – xã hội vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai; xây dựng và phát triển KKT, đô thị Chân Mây – Lăng Cô; xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an sinh xã hội; chương trình giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực; phát triển công nghệ thông tin và công nghệ cao; xây dựng mạng lưới hạ tầng chính (giao thông, thông tin liên lạc, cấp điện, cấp nước) kết nối mạng lưới đô thị thành phố trung tâm với các đô thị vệ tinh độc lập phía Nam và các đô thị vệ tinh phụ thuộc phía Bắc…
Ngoài các giải pháp phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế – xã hội cần tập trung đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực để khắc phục các hạn chế nhằm đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn đô thị loại I. Theo đó, thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Tập trung rà soát các quy hoạch xây dựng, nhất là quy hoạch xây dựng đô thị, điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng tỉnh theo định hướng phát triển đô thị toàn tỉnh, quy hoạch chung xây dựng thị trấn Thuận An theo hướng mở rộng đạt chuẩn đô thị loại IV, quy hoạch chung xây dựng các thị trấn mới như: Bình Điền, Thanh Hà, Vinh Thanh, A Đớt, Hồng Vân, La Sơn, An Lỗ, Điền Hải… tập trung công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010 – 2015 toàn tỉnh và các địa phương.
Huy động nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống đô thị vệ tinh nhất là các đô thị Hương Thủy, Hương Trà, Thuận An, Bình Điền…, đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị ở TP Huế, nhất là các dự án xử lý nước thải, các dự án chỉnh trang đô thị, các dự án đầu tư khu đô thị mới ở Khu Quy hoạch An Vân Dương, nâng cao chất lượng đô thị hóa trên toàn tỉnh, đầu tư phát triển các khu cụm đô thị mới. Phát triển các cơ sở hạ tầng nhà ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp, nhà ở sinh viên, nhà ở cho các khu công nghiệp, xây dựng mới các khu tái định cư, khu dân cư tập trung ở các đô thị…
Phát huy mọi tiềm năng thế mạnh, đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, tăng cường kêu gọi đầu tư, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với quy mô lớn; đồng thời tập trung các giải pháp cải cách hành chính, giải quyết mọi chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp trên các lĩnh vực, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm huy động tối đa tổng mức đầu tư toàn xã hội để phát triển kinh tế – xã hội…
Bên cạnh đó, tranh thủ tối đa sự hỗ trợ nguồn lực của trung ương, huy động cao nhất nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội, hạ tầng kỹ thuật như giao thông bằng nhiều hình thức; đặc biệt là giao thông đối ngoại, giao thông kết nối các đô thị vệ tinh, kết nội đô thị miền núi Nam Đông, A Lưới và TP Huế… Ưu tiên đầu tư hạ tầng cấp nước cho các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, đầu tư hệ thống xử lý nước thải đô thị ở các đô thị vệ tinh, phát triển hạ tầng cấp điện, thông tin liên lạc… Tập trung đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn toàn diện, thực hiện quy hoạch và xây dựng nông thôn mới, tăng cường công tác đào tạo nghề trong nông thôn, tạo tiền đề chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn sang lao động phi nông nghiệp trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, công nghiệp…
Thực hiện đề án phát triển KT – XH vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai nhằm đẩy nhanh công tác giảm nghèo bền vững, nâng cao các chỉ tiêu phát triển KT – XH bền vững ở khu vực nông thôn. Triển khai thực hiện điều chỉnh quy hoạch bảo tồn di tích cố đô Huế nhằm phát huy tối đa giá trị văn hóa Huế và di sản cố đô Huế góp phần xây dựng Huế thực sự là thành phố Festival đặc trưng – một trung tâm lớn đặc sắc của cả nước về văn hóa và du lịch.
Mục tiêu, chỉ tiêu KT – XH đến 2015, tầm nhìn đến 2025:
Tốc độ tăng trưởng GDP tăng trên 13%/năm; trong đó: dịch vụ tăng 12-13%; công nghiệp – xây dựng tăng 16-17%; nông lâm ngư nghiệp tăng 2-3%. Tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.300 USD, gấp 2 lần so năm 2010; phấn đấu năng suất lao động xã hội gấp 2 lần năm 2010.
Cơ cấu kinh tế đến năm 2015: dịch vụ 47- 48%; công nghiệp và xây dựng 43- 44%; nông, lâm và thủy sản 8- 9%.
Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt trên 260 nghìn tấn.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2015 đạt 700 triệu USD.
Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 100 nghìn tỷ đồng.
Thu ngân sách tăng bình quân >20%/năm; đạt khoảng 6.000 – 6.500 tỷ đồng
Thái Sơn











